cái chết của la hầu la
Phần 1: 1. La Hầu La - Cậu bé Hạnh phúc. Đức Phật của chúng ta khi còn là thái tử của vương thành Ca-tỳ-la, đã kết hôn với công chúa Dadu- đà-la thành Câu-lợi. Vào năm thái tử và công chúa mười chín tuổi, sanh hạ La Hầu La. Thái tử rất vui mừng, nhưng đó không phải là
Cái chết của Lão Hạc có ý nghĩa gì là một trong những câu hỏi mà học sinh cần trả lời được sau khi đọc xong truyện “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao. Đây là một tác phẩm giàu ý nghĩa nhân văn và hiện thực phê phán.
CÁI CHẾT Đức Dalai Lama 14 Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất.
La-hầu-la (tiếng Phạn: Rāhula; tiếng Trung: 羅睺羅 nghĩa là Phú Chướng, nghĩa là "sự chướng ngại") là một trong thập đại đệ tử của đức Phật (mật hạnh đệ nhất). Ông cũng là người con duy nhất của Thái Tử Tất-đạt-đa (siddhārtha) còn mẹ của La-hầu-la là công
Cái chết thảm của 'nữ thần bài' 1 tin mới . 18-10-2022 . 17:54 . Vòng xuyến: Điều bình thường với chúng ta nhưng vì sao người Mỹ
Vay Nhanh Fast Money. Atula là ai? Tại sao Phật Thích Ca lấy tên của Vua Atula đặt cho con trai. Ảnh Tổng hợp [Radio] - Đệ nhất mật hạnh trong số 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là con trai của Phật Thích Ca, tên là La Hầu La. Tại sao Phật Đà lại lấy cái tên của Vua Atula đặt tên cho con trai mình? Atula tồn tại như thế nào? Một trong những bức tranh bích họa ở hang Mạc Cao, Đôn Hoàng có vẽ rất nhiều Thần Tiên, đặc biệt trên đỉnh hang phía tây có một bức họa rất hoành tráng. Bức tranh vẽ núi Tu Di. Kinh Phật giảng, núi Tu Di là núi lớn ở trung tâm vũ trụ, trên đỉnh núi có một tòa thành, là cung Trời Đao Lợi. Ở giữa núi có một người khổng lồ da đen có 4 cánh tay, 1 tay nắm mặt trời, một tay nắm mặt trăng, dưới chân là biển cả. Nước biển sâu nhưng chưa ngập đến đầu gối của ông ta. Người khổng lồ này có tướng mạo đáng sợ, xung quanh ông có Thần Tiên các lộ, dường như ngầm nói rằng, người khổng lồ này có thân phận khác thường. Ông ta chính là Vua Atula, người trong tộc của ông ta được gọi là A-tu-la. Atula vốn là một trong các vị Thần viễn cổ của Ấn Độ, là vị quỷ Thần hung tợn hiếu chiến. Đối với người trẻ tuổi ngày nay thì A-tu-la cũng khá quen thuộc, bởi vì cái tên và hình tượng Atula thường xuất hiện trong tranh hoạt họa và trong game, thường là những nhân vật dũng mãnh hiếu chiến, có vẻ có chút tà ác. Atula là tiếng Phạn, nghĩa là “không đoan chính”. Không đoan chính tức là xấu xí. Họ là 1 trong 6 đạo chúng sinh, là một trong chúng Thần của Thiên Long bát bộ. Nếu nói họ là Thiên Thần nhưng họ lại không có thiện hạnh của Thiên Thần và tướng mạo xấu như quỷ. Nếu nói họ là quỷ nhưng họ lại có uy lực và thần thông của Thần. Nếu nói họ là người, tuy họ có thất tình lục dục như con người, nhưng họ cũng có uy lực của Thần và tính ác của quỷ. Có thể nói họ là phi Thần phi quỷ phi nhân, là quái vật ở giữa Thần, quỷ, người. Muốn thực sự hiểu rõ Atula, thì cần phải tìm hiểu từ sự ra đời của A-tu-la. Sự ra đời của Atula Trong “Quan Phật tam muội kinh” có ghi chép, khi thế giới vừa mới hình thành núi, biển và mặt đất, các Tiên nhân trên Thiên thượng bèn đến nhân gian chơi đùa. Trong đó có một Tiên nhân, trong khi tắm ở biển, thì không ngờ Thủy Tinh chui vào trong thân thể. Thân thể Tiên nhân liền mọc một quả trứng bằng thịt. Trải qua 8000 năm, một nữ quái sinh ra từ trong quả trứng đó. Nữ quái này trông rất đáng sợ, cao bằng núi Tu Di, trên mặt có ngàn con mắt, có 999 cái đầu, miệng, và tay, nhưng chỉ có 24 cái chân. Quái vật đáng sợ này chính là tổ tiên của Atula. Sau này nữ quái sinh ra Vua Atula, tên là Tỳ Ma Chất Đa, có uy lực vô cùng lớn, có thể đi lại tự do trên trời và dưới nhân gian. Nhưng Tỳ Ma Chất Đa trông cũng rất đáng sợ, có 9 đầu, 1000 mắt, 999 tay và 8 chân. Hình tướng của Tỳ Ma Chất Đa thì các họa sĩ hiện đại cũng không vẽ ra được, do đó chúng ta thấy tranh chân dung Vua Atula đều là những bức vẽ đã đơn giản hóa, ví như 4 mắt 4 tay… chỉ cần truyền đạt được ý là được rồi. Một ngày nọ, Tỳ Ma Chất Đa trông thấy Thiên nữ trên Thiên thượng rất xinh đẹp, liền nảy sinh ra ý muốn lấy vợ. Nữ quái biết rằng, con gái của Hương Thần Càn Thát Bà Gandharva trên Thiên giới đẹp như hoa như ngọc, nữ quái yêu con nên đã giúp con trai cầu hôn với Càn Thát Bà. Càn Thát Bà cũng vui vẻ đồng ý. Thế là tộc Atula ngày một sinh sôi nảy nở. Vua Atula kết hợp với Thiên nữ trải qua 8000 năm thì sinh ra một nữ Atula, đặt tên là Xá Chỉ. Khác với các Atula nam rất xấu xí, nữ Atula lại rất xinh đẹp. Sắc đẹp tuyệt thế của nữ Atula khiến Đế Thích Thiên ở Thiên giới cũng siêu lòng, thế là Đế Thích Thiên lập tức cầu hôn. Nhưng Vua Atula lại đưa ra điều kiện, ông ta nói rằng, nếu để ông ta ngồi ở cung điện Thất Bảo thì mới đồng ý cho con gái làm Vương phi của Đế Thích Thiên. Đế Thích Thiên nghe vậy liền lập tức tháo chiếc mũ báu xuống và ném xuống biển, liền biến thành một cung điện. Bằng công đức tu hành thập thiện, Đế Thích Thiên đã để cho Vua Atula ngồi lên cung điện Thất Bảo. Thế là Vua Atula đã đồng ý gả con gái Xá Chỉ cho Đế Thích Thiên. Đế Thích Thiên cũng rất sủng ái cô. Nhưng những ngày hạnh phúc mỹ mãn không kéo dài, bởi vì tuy con gái của Vua Atula vô cùng xinh đẹp, nhưng tính tình cũng rất ghen ghét đố kỵ. Một ngày nọ, Xá Chỉ vô ý trông thấy Đế Thích Thiên và các Thái nữ vui đùa trong bể nước, thì bỗng cơn ghen thiêu đốt trái tim. Xá Chỉ lập tức sai 5 Dạ Xoa đi tố cáo với phụ thân. Bởi vì tộc Atula tính tình ngạo mạn, không ai dám động vào, nhất là các nam Atula lại rất hiếu chiến. Khi Vua Atula nghe tin Đế Thích Thiên thích mới chán cũ thì bỗng nhiên nổi giận, liền dẫn đại quân phát động chiến tranh với Thiên giới. Đây chính là một trong những cuộc chiến nổi tiếng giữa Atula và Thiên nhân. Cuộc chiến giữa Vua Atula và Thiên nhân Trong cuộc chiến tranh này, đại quân của Vua Atula bao vây núi Tu Di trùng trùng lớp lớp. Lúc này, Đế Thích Thiên nhớ lại Phật Đà đã từng nói rằng, khi gặp đại nạn, chỉ cần trì chú thì có thể phá giải quỷ binh. Trong cuộc chiến tranh này, đại quân của Vua Atula bao vây núi Tu Di trùng trùng lớp lớp. Ảnh minh họa Miền công cộng Quả nhiên khi ông trì chú thì từ ngang trời có 4 bánh xe đao bay ra, hầu như là diệt hết đại quân Atula. Những Atula thảm bại chạy trốn, nhưng cuộc chiến giữa Thiên nhân và Atula vẫn chưa kết thúc. Cùng với thời gian qua đi, tộc Atula lại dần dần phát triển lớn mạnh, họ hình thành 4 bộ lạc, mỗi bộ lạc có một Vua Atula cầm đầu, mỗi Vua Atula thống lĩnh hàng ngàn vạn Atula, gọi là Atula chúng, hoặc gia quyến Atula. 4 Vua Atula nổi tiếng này, một người là Bà Nhã, nghĩa là dũng mãnh, là vị thống soái tiền quân của Atula chiến đấu với Đế Thích Thiên. Một người nữa là La Trại Đà, nghĩa là thét như sấm, cũng gọi là Vai Rộng, vì ông ta có cái vai rất lớn. Một người nữa là Tỳ Ma Chất Đa như đã nói ở phần trên, ý nghĩa là vòng hoa. Một người tên là La Hầu La, ý nghĩa là che lấp, ông ta có thể dùng bàn tay tô lớn che lấp ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Cuộc chiến của thế lực ác này với Thiên giới không chỉ một lần. Bọn họ chú định là phải chịu khổ trên chiến trường. Lý do khai chiến đều gắn liền với ghen ghét đố kỵ, và tính khí nóng nảy bạo ngược của Atula. Những người biết các câu chuyện Phật giáo có lẽ đều quen thuộc với cái tên La Hầu La này. Đệ nhất mật hạnh trong số 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là con trai của Phật Thích Ca, cũng tên là La Hầu La. Tại sao Phật Đà lại lấy cái tên của Vua Atula đặt tên cho con trai mình? Trước tiên, chúng ta hãy nói về câu chuyện của Vua Atula Ha Hầu La. Tương truyền, Vua Atula La Hầu La đã từng có lần dùng 2 tay che tháp Phật khi thiên tai. Trong quan niệm của Phật giáo, tháp Phật vô cùng trang nghiêm thần thánh, có câu nói rằng “Thấy tháp như thấy Phật tổ”. Các Phật tử nếu thấy tháp thì đều để hở vai phải, và đi quanh tháp 3 vòng, coi đó là lễ Phật. Bởi vì Vua Atula La Hầu La bảo vệ tháp Phật nên Phật tổ thấy thiện căn của ông ta chưa mất hết, bèn thu nhận ông ta làm hộ Pháp, đó chính là 1 trong Thiên Long bát bộ mà chúng ta biết. Nói đến Thiên Long bát bộ, đầu tiên mọi người sẽ nghĩ đến tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, thực ra, Thiên Long bát bộ là thuật ngữ trong Phật giáo, là Bát bộ chúng sinh thiện đạo, là Thần hộ Pháp của Phật Pháp. Chức trách của họ là bảo hộ Phật Pháp, tránh bị yêu ma xâm phạm hay can nhiễu. Thiên Long bát bộ đều là phi nhân’, bao gồm 8 loại quái vật ở Thần đạo. Một là Thiên chúng Deva, hai là Long chúng Naga, ba là Dạ Xoa Yaksa, bốn là Càn Thát Bà gandharva, năm là Atula asura, sáu là Ca Lâu La garuda, bẩy là Khẩn Na La kinnara, tám là Ma Hầu La Già mahoraga Mọi người có lẽ cảm thầy kỳ lạ, rằng Atula chẳng phải là quái vật đó sao, sao lại có thể trở thành Thần hộ Pháp? Chúng ta biết trong Phật giáo giảng về Lục đạo, gồm Thiên đạo, Atula đạo, Nhân đạo, Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo và Địa ngục đạo. Thiên đạo, Atula đạo và Nhân đạo thuộc về Tam thiện đạo. Tam thiện đạo tuy có thống khổ và cũng không viên mãn, nhưng sinh mệnh vẫn còn có cơ hội thăng hoa hướng lên thành hình thái sinh mệnh cao cấp. Do đó gọi là Tam thiện đạo. Còn Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo và Địa ngục đạo thuộc về Tam ác đạo. 6 đạo chúng sinh này sau khi chết đều luân hồi chuyển thế trong Lục đạo luân hồi. Thiên nhân tuy có khả năng tiến thêm một bước thành Phật, Bồ Tát, như hy vọng rất mù mịt, bởi vì họ suốt ngày hưởng lạc mà quên tinh tấn, đại đa số đều rơi xuống 4 đạo thấp cấp hơn là người, súc sinh, địa ngục và ngạ quỷ, chỉ có trường hợp cực kỳ cá biệt, có năng lực phản tỉnh, thì mới có cơ hội triệt để giải thoát. Atula tiếng Phạn cũng có nghĩa là phi thiên, do đó Atula đạo là phi thiên giới’, họ có thể sống hưởng phúc như thiên nhân, nhưng lại không có đức hạnh của thiên nhân. Họ khả năng đời trước cũng là người có tu hành, hoặc là thiên nhân, phúc phận khá lớn, tuy nhiên, về phương diện thân khẩu ý thì có những việc xấu ác nhỏ, tâm tính có khiếm khuyết, ví như ngạo mạn hoặc đố kỵ, do đó cuối cùng bị rơi vào Atula đạo. Điều này nói rõ rằng, trong giới tu luyện, tâm tật đố rất được xem trọng. Trong kinh điển Phật giáo “Tạp dụ kinh” có ghi chép câu chuyện như sau Đời trước của Vua Atula là một người nghèo, sống trong một ngôi nhà nhỏ bên dòng sông lớn. Người nghèo này thường phải chặt củi rồi qua sông bán ở phiên chợ. Nhưng con sông lớn thường xuyên có lũ, nước sông lại sâu, nước lại chảy xiết. Đã nhiều lần người nghèo này suýt nữa thì bị nước sông nhấn chìm, may mà cuối cùng đều thoát mạng. Một ngày nọ, một tăng nhân Phật môn là hóa thân của một vị Bích Chi Phật đến trước cửa nhà người nghèo này hóa duyên. Người kiếm củi này thấy tăng nhân Phật môn đến nhà mình thì cảm thấy vô cùng hoan hỉ, vội vàng mời tăng nhân vào trong nhà. Anh ta dùng tất cả thức ăn trong nhà để làm một bữa chay cúng dường tăng nhân. Vị Bích Chi Phật ăn cơm chay xong thì ném chiếc bát lên trên không và vút lên không bay đi. Anh kiếm củi ngây người ra nhìn, anh ta hướng về phía Bích Chi Phật phát nguyện, mong muốn đời sau có được thân thể cao lớn, có thể qua sông dễ dàng hơn. Do nhân duyên này nên người kiếm củi đã được phúc báo, đời sau có được hình dạng cao lớn như thế này. Thân hình khổng lồ, có nhiều mắt nhiều tay, nhìn cung trời Đao Lợi ở phía dưới. Câu chuyện này thực hư như thế nào, chúng ta không khảo cứu. Nhưng câu chuyện này đã nói rõ một điểm. Đó là, người nghèo này cho dù cuộc sống túng bấn cũng dốc hết thức ăn trong nhà để cúng dường tăng nhân, điều đó có nghĩa là, phúc phận mà đời trước của Atula tích được đều đến từ việc ông ta vui thích bố thí, ông ta coi việc bố thí là quan trọng hơn tất cả. Tuy nhiên, ông ta không biết trì giới, không biết nhẫn nhục, và còn nóng tính, tâm ngạo mạn và hiếu thắng còn lớn, do đó sau khi chuyển sinh thì trở thành Atula, được hướng phúc báo mà đời trước tích được, còn đời này tiếp tục đánh giết tạo nghiệp trong Atula đạo, đời sau rất có thể rơi vào Tam ác đạo. Cuộc chiến giữa Thiên nhân và Atula lần thứ 2 Ở trên đã nói, Vua Atula sau khi bị Đế Thích Thiên đánh bại, tộc Atula dần dần phát triển lớn mạnh, sau đó hình thành 4 bộ tộc, mỗi bộ tộc có một Vua Atula lãnh đạo. Theo kinh “Pháp cú thí dụ kinh” ghi chép, trải qua nhiều năm sau, Đế Thích Thiên lại để mắt đến một Atula nữ, muốn cưới về làm vương phi. Người được Đế Thích Thiên phải lòng này chính là con gái của Vua Atula La Hầu La. Về con gái của La Hầu La, kinh “Pháp cú thí dụ kinh” miêu tả cô rất đẹp, khi nói mùi hơi thở giống như mùi hương của hoa Ưu Bát La, mùi từ lỗ chân lông thoát ra thơm hơn mùi hương gỗ đàn hương, sắc mặt hồng hào, da như ngọc. Những người trông thấy cô, không ai là không yêu thích. Để cưới con gái của Vua Atula làm vương phi, Đế Thích Thiên bèn phái Nhạc Thần trên Thiên thượng đem theo sính lễ, và dùng ca khúc để dẫn dụ Vua Atula đồng ý hôn nhân. Vua Atula nghe xong thì bực tức, không nói năng gì, liền đuổi Nhạc Thần ra khỏi cung, còn điều động binh mã chuẩn bị tấn cung cung Đế Thích Thiên. Đế Thích Thiên vẫn dựa vào trì chú như lần trước, liên tiếp đánh bại đội quân Atula, còn bắt được con gái Vua Atula. Đế Thích Thiên vẫn dựa vào trì chú như lần trước, liên tiếp đánh bại đội quân Atula, còn bắt được con gái Vua Atula. Ảnh minh họa Miền công cộng Thấy Đế Thích Thiên làm cũng không đúng, La Hầu La bèn sai sứ giả đi đàm phán, chỉ ra rằng, Đế Thích Thiên là đệ tử của Phật, không nên phạm giới cướp đoạt. Đế Thích Thiên nghe thấy có đạo lý, thấy mình đã phạm giới, bèn trả con gái Vua Atula trở về, và tặng nước cam lồ của Thiên thượng. Còn La Hầu La cũng hạ thấp cái tôi xuống, đem con gái tặng cho Đế Thích Thiên, đồng thời tự nguyện thọ trì tam quy ngũ giới, trở thành đệ tử của Phật. Việc này cũng coi là kết thúc có hậu. Từ đây có thể nhìn ra, duyên tu hành của Vua Atula cũng không bình thường. Nhưng việc này có quan hệ như thế nào với con trai của Phật Thích Ca Mâu Ni? Tại sao Phật tổ lấy tên Vua Atula đặt tên cho con trai mình? Con trai của Phật Đà La Hầu La Tương truyền, đời trước của La Hầu La, con trai của Phật Đà, cũng là một người tu luyện. Một ngày nọ, ông đang ngồi đả tọa thì bị tiếng chuột gặm gỗ gây ồn. Đả tọa cần yên tĩnh. Thế là ông bịt lỗ chuột lại, bịt liền 6 ngày. Đến ngày thứ 6, ông nghĩ đến lỗ chuột bị bịt, bèn mở lại lỗ chuột. Ông phát hiện ra, con chuột đã chịu đói 6 ngày ở trong hang, tuy còn sống nhưng đã gầy đi nhiều. Trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, thê tử của Ngài có mang La Hầu La. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni đả tọa 6 năm ở trên núi Tuyết Sơn, thì La Hầu La ở trong bụng mẹ 6 năm mới chào đời. Việc này chính là quả báo bít hang chuột 6 ngày đời trước. Hơn nữa La Hầu La chào đời vào lúc nguyệt thực, nên mới đặt tên là La Hầu La, có nghĩa là che lấp, nghĩa là che lấp nghiệp chướng. Đây chính là ghi chép về La Hầu La trong Phật giáo. Nhưng khác với trong Phật giáo, Atula là sinh vật phi nhân phi quỷ phi Thần, trong Bà la môn giáo của Ấn Độ, Atula được liệt vào Thần tộc. Trong Thần thoại Ấn Độ cổ, bất kể là Thiên nhân hay Atula, họ đều do Phạm Thiên, vị Thần Sáng Tạo sinh ra. Chúng Thần, bao gồm cả Atula và Thiên nhân đều cư trú ở núi Tu Di. Núi Tu Di lại ở biển của vũ trụ - Nhũ Hải. Khuấy động Nhũ Hải Trong biển Nhũ Hải có một vật đặc biệt có thể khiến chúng Thần trường sinh bất tử nước cam lồ bất tử. Atula và các Thiên nhân khác đều muốn có được vật này, do đó thường xảy ra chiến tranh. Trong một lần chiến tranh khốc liệt, Phạm Thiên, vị Thần Sáng Tạo, cha của họ không chịu được nữa, bèn ra lệnh cho họ hợp tác cùng nhau khuấy động Nhũ Hải, sau đó 2 bên cùng nhau chia nước cam lồ bất tử. Chúng Thần hợp lực khuấy động Nhũ Hải, cuối cùng nước cam lồ bất tử đã xuất hiện, nhưng lại bị Atula, những kẻ muốn chiếm riêng cướp đi. Thần Vishnu lo rằng sau khi Atula độc chiếm nước cam lồ bất tử, sẽ phá hoại sự cân bằng của thế giới, Thần bèn hóa thành vô số mỹ nữ, cuốn hút và đưa tộc Atula, kẻ vốn chiếm được nước cam lồ bất tử, trở về nơi cũ, và lấy lại được nước cam lồ. Sau đó, Thần đến chỗ các Thiên nhân, cho họ uống nước cam lồ trường sinh bất lão. Trong Thần thoại Ấn Độ, trong tộc Atula cũng có một Atula tên là La Hầu La, người này không bị mỹ nữ do Thần Vishnu hóa ra hớp hồn. La Hầu La hóa thân thành Thiên nhân, trà trộn trong Thiên nhân, và được uống nước cam lồ bất tử. Nhưng hành vi của ông ta bị Thần Mặt trời và Thần Mặt trăng phát hiện ra, và báo cho Thần Vishnu. Thần Vishnu lập tức ra tay, chặt đầu La Hầu La, lúc đó đang ngậm nước cam lồ, chưa kịp nuốt xuống bụng. Từ phần cổ trở lên của La Hầu La do có nước cam lồ nên không chết, trái lại còn truy sát Thần Mặt trời và Thần Mặt trăng vì tội tố cáo. Nhưng vì từ phần cổ trở xuống đã bị Thần Vishnu hủy diệt, nên mỗi lần La Hầu La đem Thần Mặt trời và Thần Mặt trăng nuốt vào trong miệng, thì lại từ trong cổ họng chui ra. Đây chính là nguồn gốc của nhật thực và nguyệt thực. Sau khi uống nước cam lồ bất tử, sức mạnh các Thiên nhân tăng mạnh, do đó đã nhanh chóng đuổi tộc Atula ra khỏi núi Tu Di. Sự thù hận giữa 2 bên lại càng sâu hơn, và bắt đầu những cuộc chiến không có hồi kết thúc. Tộc Atula bị đánh tơi bời. Từ đó trở đi, Atula đều muốn trở lại Thiên giới, nhưng Thiên nhân có sức mạnh quá lớn. Sau khi Atula Đa La Già ra đời, ông ta dốc sức tu hành khổ hạnh, hy vọng sẽ có được sức mạnh. Phạm Thiên cảm động bởi thành tâm của ông ta, nên đã giáng phúc, Đa La Già từ đó thường thắng bất bại, nhưng nhược điểm duy nhất của ông là con trai của Thần Shiva có thể giết chết ông ta. Atula dưới sự lãnh đạo của Vua Atula Đa La Già lại tấn công núi Tu Di, Thiên nhân bị đánh bại liên tiếp. Các Thiên nhân thấy sắp tiêu vong liền lập tức cầu cứu Phạm Thiên. Lúc này họ mới được biết, chỉ có con trai của Thần Shiva mới có thể giải quyết được. Chúng Thần cầu cứu, con trai của Thần Shiva là Thất Kiện Đà. Thất Kiện Đà có được Thiên binh Thiên tướng của Nhân Đà La, đã đánh bại Đa La Già, khôi phục lại hòa bình cho Thiên giới, do đó ông trở thành nguyên soái của Thiên binh Thiên tướng. Cho đến ngày nay, Atula vẫn bị đuổi ra khỏi núi Tu Di, nhưng vẫn tranh chấp không ngừng nghỉ với Thiên nhân, và vẫn thường xảy ra các cuộc đại chiến. Mỗi lần chiến tranh, Atula đều bị tử thương vô số, do đó tình hình thảm khốc được gọi là “tu la trường”. Do đó tu la trường ngày nay có ý nghĩa đấu tranh hoặc tác chiến. Tường Hòa Theo Earth Inn
TÔN GIẢ LA HẦU LA ĐỆ NHẤT MẬT HẠNHPhần 2 Đức La Hầu La là người con duy nhất của đức Phật khi Ngài chưa xuất gia. Con đường tu tập và chứng ngộ của đức La Hầu La khi là con Phật có sung sướng thuận lợi hơn người thường không hay ngược lại? Mời quý vị theo đọc loạt truyện về hạnh của ngài La Hầu La Đệ Nhất Mật Sa di Đầu tiên Đức Thế Tôn ở tạm trong hoàng cung vài ngày, và phen này, trong cung điện vắng bóng cung nữ, chẳng có yến tiệc rượu chè, chỉ có một ngàn vị Tỳ kheo theo Phật. Cung điện hoàng gia tạm thời trở thành Tăng phòng tinh xá. Đức Thế Tôn biết các thầy Tỳ-kheo sơ học, nếu ở lâu trong vương cung, dễ sanh tâm so sánh với lối sống đạm bạc của Tăng đoàn, nên chỉ vài ngày sau, Ngài đưa đại chúng về trụ tại rừng Ni-câu-đà ở cách thành Ca-tỳ-la không ở Ni-câu-đà, nhưng đức Thế Tôn cũng thường về hoàng cung trì bát khất thực hoặc thuyết pháp. Cậu bé La-hầu-la, ngây thơ một cách dễ thương, thân mật nói với Ngài– Phật-đà! Con rất thích được ở chung với nói ấy đã biểu lộ phụ tử tình thâm, đức Thế Tôn cũng trả lời– Rồi cũng có ngày ta cho con sống gần bên nói câu ấy không lâu, quả nhiên La-hầu-la xuất gia theo luôn bên Ngài. Nguyên nhân là vì Da-du-đà-la thường khuyến khích La-hầu-la thêm hoạt bát lanh lẹ, mặc quần áo đẹp cho và bảo con rằng– Con hãy theo phụ thân xin tài sản đi, cha con có những châu báu mà chúng ta chưa được thấy!Đức Phật cho La Hầu La gia tài của mình không phải là tài sản thế gian mà là tài sản xuất thế gian Ngài thu nhận La Hầu La vào tăng đoàn Vua Tịnh Phan Buồn khổ sau đó Vua yêu cầu Đức Phật không cho Phép giới tử xuất gia mà cha mẹ chưa đồng ý trong trường hợp dưới 18 tuổi. Đức Phật nhận đó, La-hầu-la thường chạy theo đức Phật nói– Phật-đà! Cho con gia tài!Một hôm, đang lúc đức Thế Tôn khất thực trở về rừng Ni-câu-đà, Ngài đi trước, La-hầu-la chạy theo sau, chẳng có ai ngăn cản cậu, cậu cứ lẽo đẽo theo sau Phật kêu– Cho con gia tài a! Cho con gia tài a!Da-du-đà-la nhìn thấy đứa con duy nhất đi sau lưng Phật, rất sợ La-hầu-la bị đưa xuất gia, bất giác rơi nước Phật về đến rừng, gọi Xá-lợi-phất đến nói– Xá-lợi-phất! Cậu bé La-hầu-la cứ theo ta xin gia tài, ta không muốn cho y thứ tài sản và hạnh phúc mong manh, ta muốn cho y bảo bối vô giá. Này Xá-lợi-phất! Ông hãy cho y xuất gia, làm Sa-di đầu tiên của Tăng đoàn!Đức Phật nói xong, gọi Mục-kiền-liên cạo tóc cho cậu bé, dạy lễ bái Xá-lợi-phất làm thầy, truyền giới Sa-di cho La-hầu-la, đó là khởi nguyên của chúng vốn là tất cả hoài bảo của bà Da-du đà-la, bây giờ đã gia nhập Tăng đoàn, đó cũng là dụng ý của đức Phật. Khi còn là Thái tử hạ sanh La-hầu-la, Ngài đã rời bỏ ngôi vị ra đi và đắc thành Phật quả, thì vương vị mai sau của nước Ca-tỳ-la-vệ nhất định sẽ về tay chủ trương của đức Phật, để cho một đứa bé con làm chủ cả bàn dân thiên hạ là chuyện không thể được, cho nên thừa cơ hội, Ngài phương tiện cho con xuất xuất gia là một điều đau buồn cho bà Da-du lúc đó chưa ngộ đạo. Cậu bé là nguồn hy vọng của bà, bà thương quý cậu hơn cả thân mình. Thái tử đã ra đi, bây giờ con yêu cũng lìa bỏ, đối với bà thật là trời sầu đất ta cũng có thể thấu cảm với bà Da-du khi trách đức Phật nhẫn tâm, để cho bà chịu nhiều đau khổ quá đáng. Nhưng chơn lý và nhân tình là hai lối trái ngược nhau rất xa, phải hàng phục được tình cảm yếu đuối của thế nhân, mới khế hợp được với chơn lý pháp tánh Tuổi trẻ Nghịch ngợm, mẹ đi xuất giaLa-hầu-la xuất gia làm Sa-di rồi, vương phi Dadu cũng đành chịu, không biết làm sao hơn. Vua Tịnh Phạn thông cảm cho nỗi khổ tâm của bà, bèn đến tìm Phật, yêu cầu một điểm– Bạch Thế Tôn! Mong rằng Ngài quy định từ nay về sau, các người trẻ tuổi muốn xuất gia phải được sự đồng ý cho phép của cha mẹ. Đức Phật hoan hỷ nhận chẳng còn hứng thú gì trên cõi đời này, tất cả đều khô sau, Di mẫu của Phật là phu nhân Kiều-đàm-di xuất gia làm Tỳ-kheo ni, Dadu cũng theo đoàn người nữ họ Thích đến Tỳ-xá-ly xuất gia. Ban đầu, bà không cảm thấy chút gì an lạc khi sống trong Tăng đoàn vắng nhờ đức Thế Tôn cảm hóa, chẳng bao lâu, bà được khai ngộ, khôi phục lại niềm vui, cùng sinh hoạt bình thường, an ổn tự tại trong Phật pháp. Bà rất vui mừng, rất cảm kích đức Thế Phật cũng hoan hỷ, đến lúc ấy Ngài mới hết trách nhiệm với Sa-di La-hầu-la còn quá nhỏ, không thể bắt buộc tu hành giống như người lớn được. Ít lâu sau, khi Tăng đoàn có chế độ Sa-di, Xá-lợi-phất cũng thâu một chú nhỏ là Sa-di Quân-đầu, và hai chú bé thường chơi chung với nhau. Lúc vắng người, cả hai cùng bày những trò chơi trẻ con để đùa cậu bé mới trên mười tuổi, mỗi ngày sống trong Tăng đoàn nghiêm túc, nếu như đó là ý nguyện của chú bé thì không nói chi, như nếu vì hoàn cảnh ép buộc, thì tâm lý sẽ có nhiều thay xuất gia không thấy Tăng đoàn vui vẻ gì, chỉ ngoài mặt không lộ nét bực bội. Một thiếu niên khoảng trên mười lăm tuổi, đối với sự chỉ dạy của người lớn tự nhiên là vâng theo, nhưng dưới khoảng tuổi ấy, theo bản năng tự nhiên của cậu, sẽ có những bất mãn, những tư tưởng phản kháng lại. Những năm còn ban sơ tuổi nhỏ, La-hầu-la cũng như bao trẻ con khác, ưa trêu chọc ấy La-hầu-la ở rừng Ôn Tuyền ngoài thành Vương Xá, có nhiều quan đại thần, trưởng giả, cư sĩ đến hỏi thăm đức Thế Tôn hiện ở đâu. Cậu thường tìm cách nói gạt để trêu ghẹo mọi người. Nếu đức Phật đang ở tinh xá Trúc Lâm, thì La-hầu-la lại nói Ngài ở núi Kỳ-xà-quật. Đức Phật ở tại Kỳ-xà-quật thì cậu nói gạt rằng Phật ở tinh xá Trúc Lâm. Hai nơi ấy cách xa nhau khoảng hai dặm, khiến thiên hạ cứ đi tới đi lui mệt đừ, mà rốt cuộc không gặp được Phật. Khi họ thất vọng quay về, La-hầu-la còn cười nhạo– Các ông không gặp được Phật sao?– Đại đức! Ngài còn cười nhạo bọn tôi nữa ư?– Ai trêu chọc các ông? Tôi lo cho các ông thôi bé La-hầu-la nghịch ngợm không bao giờ nhận lỗi của nhà giàu có, thế lực thì hay ỷ lại vào tiền của và địa vị của cha mẹ, ưa làm chuyện bậy bạ. La hầu-la vốn là cháu vua Tịnh Phạn, con Phật, tuy xuất gia trong Tăng đoàn bình đẳng nhưng vẫn là con nít, chắc cũng được nhiều người sủng ái, nên theo ý tôi, cậu bé có những tập khí kiêu mạn, cũng là tâm lý gạt mọi người một lần, hai lần, thiên hạ còn bị lầm, nhưng sau vài lần mọi người đều biết, và tiếng đồn La-hầu-la nói dối, chọc ghẹo người đến tai Phật. Đức Thế Tôn không vui chút nào. Một hôm Ngài đích thân đến rừng Ôn Tuyền, răn dạy La-hầu-la một Lời Răn của Phật hay bài học rửa chânHôm ấy, đức Thế Tôn đến chỗ ở của La-hầu-la, với dáng hết sức oai nghiêm. La-hầu-la không ngờ vội chỉnh y ra nghinh đón Phật. Đợi cho Thế Tôn an tọa, cậu đem nước đến cho Phật rửa chân. Đức Phật không nói một lời, rửa chân xong, bèn chỉ nước dơ trong chậu bảo La-hầu-la– Này La-hầu-la! Thứ nước dơ bẩn này có đem uống được không?– Bạch Thế Tôn! Nước rửa chân rất dơ, không thể uống được.– Ông cũng giống thứ nước đó! – Đức Thế Tôn quở– Nước vốn trong sạch, rửa chân xong bèn trở nên cáu bẩn, giống như ông vốn là vương tôn, lìa bỏ mọi thứ vinh hoa phú quý tạm bợ của thế gian, xuất gia làm Sa-môn, tuy chưa thọ giới Tỳ-kheo, nhưng ông đã thọ mười giới Sa-di. Ông không tinh tấn tu tập, không để thân tâm thanh tịnh, không giữ miệng cẩn thận lời nói, dối gạt chọc ghẹo người, cấu uế của tam độc đầy dẫy trong tâm ông, giống như nước trong sạch bị dơ bẩn một Phật dậy La Hầu LaNước vốn trong sạch, rửa chân xong bèn trở nên cáu bẩn, giống như ông vốn là vương tôn, lìa bỏ mọi thứ vinh hoa phú quý tạm bợ của thế gian, xuất gia làm Sa-môn, tuy chưa thọ giới Tỳ-kheo, nhưng ông đã thọ mười giới Sa-di. Ông không tinh tấn tu tập, không để thân tâm thanh tịnh, không giữ miệng cẩn thận lời nói, dối gạt chọc ghẹo người, cấu uế của tam độc đầy dẫy trong tâm ông, giống như nước trong sạch bị dơ bẩn một bao giờ đức Thế Tôn nghiêm nghị như vậy. La-hầu-la cúi đầu chẳng dám ngó Phật bảo đem nước đổ đi, cậu bé mới nhúc nhích. Đợi La hầu-la đổ hết nước xong, Phật lại hỏi– La-hầu-la! Ông lấy cái chậu này đựng cơm được không?– Bạch Thế Tôn! Chậu đựng nước rửa chân không thể đem đựng cơm, vì chậu đã dơ, đầy cáu ghét không thể đựng thức ăn được!– Ông cũng giống cái chậu đó. Tuy làm Sa-môn thanh tịnh mà không tu giới định huệ, thân khẩu ý không thanh tịnh, chứa đầy cấu uế không chân thật, thức ăn đạo lý làm sao nhét vào tâm ông ?La-hầu-la sợ toát mồ hôi, xấu hổ muốn độn thổ, phát nguyện từ nay về sau cố gắng sửa đổi tâm tánh. La-hầu-la tuy có bản tính tốt ngoan ngoãn, nhưng phải có pháp thủy của đức Thế Tôn tẩy rửa một phen mới trở nên thanh tịnh vô nhiễm nói xong lấy chân đá nhẹ cái chậu lăn mấy vòng, La-hầu-la thấy thế hoảng sợ. Phật lại hỏi– La-hầu-la! Ông sợ cái chậu này bị đá bể không?– Bạch Thế Tôn! Không ạ. Chậu rửa chân là đồ vật xấu, có bể cũng chẳng sao.– La-hầu-la! Ông không tiếc cái chậu này, giống như mọi người không thương mến ông. Ông xuất gia làm Sa-môn, không giữ oai nghi, nói dối đùa ghẹo, ai mà thương ông được. Không ai quý tiếc gì ông, cho đến lúc ông chết mà ông không hối cải, lại càng chìm trong mê sợ toát mồ hôi, xấu hổ muốn độn thổ, phát nguyện từ nay về sau cố gắng sửa đổi tâm Phật răn dạy xong, lại nói thêm một ví dụ cho La-hầu-la nghe– Đời quá khứ, có một quốc gia nọ nuôi hai con voi lớn dũng mãnh thiện chiến. Mỗi khi nhà vua cử binh ra trận, lại trang bị áo giáp cho chúng. Ngà voi mang giáo nhọn, bên tai giắt kiếm bén, bốn chân đều có dao sáng ngời, sau đuôi lại cột thêm gậy sắt. Tuy mang nhiều vũ khí như thế, nhưng mỗi khi giao chiến chúng đều cuốn vòi dấu kín, vì đó là chỗ nhược, nếu để trúng tên liền chết ngay, vì muốn giữ gìn mạng sống phải giữ kỹ chiếc Ông cũng phải như voi kia giữ kỹ cái vòi, cẩn thận giữ gìn lời nói, mỗi khi mở miệng nói đùa như voi bị thương, huệ mạng của ông sẽ mất, không được mọi người thương mến, không được người trí ưa thích, đến khi lâm chung sẽ bị rơi vào ba đường Thế Tôn dùng hết tình hết lý, khẩn thiết, nghiêm trang răn dạy, mỗi lời mỗi câu đều in sâu vào tâm La-hầu-la, chú bé phát nguyện từ nay sẽ sửa đổi. Như hạt lúa chúng ta tuy xay giã thành hạt gạo, nhưng còn dính bụi cám, phải vo chà sạch sẽ thì gạo trắng mới ra gạo trắng. La-hầu-la tuy có bản tính tốt ngoan ngoãn, nhưng phải có pháp thủy của đức Thế Tôn tẩy rửa một phen mới trở nên thanh tịnh vô nhiễm được. Từ đó La-hầu-la trở thành một người khác.Còn tiếpBài viết “Tôn giả La Hầu La – Sa di đầu tiên của đức Phật là ai?”Thích Nữ Như Đức/ Vườn hoa Phật giáo
Chứng quả A La Hán lúc 20 tuổi Ví như ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh của đức Phật, mỗi ngày cầm bình bát khất thực, rửa chân ngồi thiền, hành hóa thuyết pháp, khiến chúng sinh nhập Phật tri kiến, chính là mật hạnh. Lại ví như La Hầu La sám hối sửa lỗi, giữ vững thanh tịnh giới hạnh, trở thành đệ nhất mật hạnh trong đệ tử Phật. Hình ảnh Sa di La Hầu La trong Giáo hội Nguyên thủy cho đến ngàn sau vẫn là hình ảnh tuyệt đẹp của một thiên thần bé nhỏ, xuất gia từ lúc ấu thời và cuối cùng cũng đã sánh vai với chư Thánh trên lộ trình giác ngộ giải thoát. Ngài không chỉ mở đường cho chính mình, mà còn mở đường cho vô số chú tiểu bé nhỏ khác trên khắp thế giới, trong mọi thời đại, bước vào vòm trời cao rộng siêu thoát của nếp sống Thiền môn. Ngài là con ruột của thái tử Tất Đạt Đa. Sau khi xuất gia thì La Hầu La là người có quyền thừa kế vương vị của thành Ca Tỳ La. Năm Ngài lên bảy tuổi cũng là lúc đức Phật về thăm lại quê nhà lần đầu tiên, Ngài đã thân hành theo Phật và đức Phật đã giao việc giáo hóa cho Tôn giả Xá Lợi Phất. Để tẩy trừ được thói vương giả, quen chỉ tay năm ngón của La Hầu La nên đức Phật bảo Xá Lợi Phất giao cho La Hầu La công việc hàng ngày quét dọn tinh xá. Một hôm khác, Tôn giả cùng với Xá Lợi Phất vào thành khất thực, có một số thanh niên mất dạy đã bỏ cát cùng với cơm vào trong bình bát, rồi dùng gậy đánh lên đầu của La Hầu La. Nhìn gương mặt bừng bừng tức giận La Hầu La, Tôn giả Xá Lợi Phất ôn tồn khuyên bảo Nếu là đệ tử Phật, người nên có tinh thần nhẫn nhục, không nên cưu hận trong lòng mà thay vào đó nên luyện tập tâm từ bi thương hại cho chúng sanh, vinh nhục khen chê không đáng để chúng ta quan tâm. Đức Phật đã dạy rằng trên thế gian này không có một sức mạnh nào sánh bằng sự nhẫn nhục. Sự việc này sau khi Phật biết Phật đã dạy thêm rằng Này La Hầu La! Người không biết nhẫn nhục không thể thấy Phật, thuận Pháp, gần Tăng, thường bị đọa lạc vào đường dữ. Có nhẫn nhục mới có bình an, mới tiêu trừ được họa hoạn, khai thông trí tuệ. Trí tuệ tối cao là con đẻ của nhẫn nhục. Người có trí tuệ mới thấy được quả báo thâm viễn, khắc phục sân tâm, thường hành tinh tấn, thể hiện chân tinh thần và chân ý nghĩa của Phật pháp hòa hợp với thế tục mà không bị ô nhiễm. Nhẫn nhục là tăng thượng duyên của đạo pháp, giúp hành giả sớm chứng giải thoát. Nhờ vào sự giáo hóa của Phật và Xá Lợi Phất nên La Hầu La dần bỏ được tính nóng nảy của thói vương giả. Duy chỉ có cái tật hay nói dối, bông đùa để nhằm mua vui thì không sửa được. Nhằm giúp La Hầu La sửa tật này, một hôm Phật bảo La Hầu La mang cho Ngài một chậu nước để Phật rửa chân, rửa chân xong, đức Phật bảo Nước này không thể uống được vì đã ô uế. Nước đã ô uế không dùng được, tâm cũng vậy, mang danh xuất gia mà không tinh tấn tu học, không giữ gìn lời nói, lòng tràng đầy ba ô uế thì cũng như chậu nước này vậy. Đã không dùng thì nên bỏ đi. Phật bảo La Hầu La mang chậu nước đi đổ, một lát sau La Hầu La mang chậu không về. Phật nói tiếp Chậu này không dùng được vì mặt chậu bám đầy chất dơ. Chậu dơ không dùng được, thân thể cũng thế, mang danh xuất gia mà không tu giới định huệ, không thanh tịnh thân khẩu ý, mình dính đầy ba độc cấu uế thì có khác gì cái chậu dơ này. Đã không dùng đến thì thà đập bể còn hơn. Phật đá nhẹ vào khiến cái chậu vỡ làm đôi. Hỏi Nhà ngươi có tiếc cái chậu không? Thưa không, vì là chậu dơ, La Hầu La đáp. Này La Hầu La nhà ngươi không tiếc cái chậu dơ như thế nào thì Tăng đoàn không tiếc người dơ như thế ấy. Mang danh xuất gia mà không giữ uy nghiêm, hý ngôn lộng ngữ thì ai mà thương mến nhà ngươi cho được. Sau đó, đức Phật chỉ dẫn con làm sao để suy xét mọi hành động của mình. “Cái gương dùng để làm gì?”, Ngài hỏi. “Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi”, La Hầu La đáp. Đức Phật lại dạy “Trong khi chuẩn bị làm điều chi bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm”. Từ đó, La Hầu La thề quyết tâm hoán cải, nghiêm trì giới luật, tinh tấn đạo tâm, suốt ngày kín tiếng lặng hơi, quyết luyện mật hạnh. Tu như vậy mấy năm liền mà vẫn không có kết quả, nhưng nhân một hôm chỉ nghe một câu nói của Phật mà thoát nhiên khai ngộ. Hôm ấy đi du hóa Phật nhìn cảnh đẹp xung quanh mà bảo với La Hầu La rằng Hãy nhìn vào cảnh vật sum suê kia rồi sau đó nhìn vào tâm của mình, để xem thử có cái gì đứng yên một chỗ không? Vô thường! Vô thường tất cả! Nên biết như thế mà đừng để tâm chấp trước vướng mắt vào đâu hết. Sau một thời gian chăm chú luyện mật hạnh, câu nói trên đây của Phật như có sấm đập vào màn nhĩ, khiến La Hầu La thấy choáng váng bèn xin đức Phật cho phép về tịnh xá ngồi thiền. Phật du hóa về cho gọi La Hầu La lên bảo Này La Hầu La! Thầy đã chứng được tận cùng của mật hạnh rồi đấy. Giờ đây hãy mở rộng lòng từ bi, dung nạp tất cả chúng sanh vào lòng. Dung nạp tất cả chúng sanh vào lòng thì tội ác dứt trừ. Bờ đại giác đã gần kề. Lúc đó La Hầu La mới 20 tuổi. La Hầu La nhập Niết Bàn Về sự đản sinh và niết bàn của La Hầu La có hai truyền thuyết Một thuyết cho rằng La Hầu La ra đời năm Thái tử Tất Đạt Đa 19 tuổi, thuyết khác cho rằng La Hầu La chào đời năm Thái Tử Tất Đạt Đa 25 tuổi. Về năm Niết Bàn của La Hầu La cũng có hai truyền thuyết. Một thuyết nói La Hầu La Niết bàn trước Phật vài năm, thuyết khác ghi khi Phật Niết Bàn La Hầu La còn quỳ bên Phật. Theo truyền ký Da Du Đà La cùng tuổi với Phật, nhưng niết bàn năm 78 tuổi như thế là trước Phật 2 năm. Còn La Hầu La niết bàn không quá 50 tuổi trước cả Phật và Da Du Đà La. Trong hàng Thánh chúng, La Hầu La là vị tu chứng trẻ nhất, lúc mới 20 tuổi. Đúng là mê nhất kiếp ngộ nhất thời, vừa vâng lời Phật bỏ tính ham chơi của tuổi trẻ, tu chẳng bao lâu La Hầu La liền chứng thánh vị. Lúc còn là chú tiểu và cả lúc đã thọ sa di, La Hầu La biểu thị tính hồn nhiên, thơ ngây, nghịch ngợm của tuổi trẻ ngày xưa. Bởi thế sau khi nghe giáo huấn của Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất, La Hầu La đã dễ dàng loại trừ những trò chơi trêu chọc nghịch ngợm và gia công trau dồi oai nghi tế hạnh, để chứng thánh quả. Người xưa có nói "Hữu hoạn bất tài, hà hoạn vô vị", nghĩa là chỉ sợ không tài, lo gì không có địa vị. Đối với cuộc đời, người có tài đức nếu vì một lý do nào đó không thành công thì cũng thành nhân. Tôn giả La Hầu La nhờ âm thầm bỏ công rèn luyện oai nghi tế hạnh nên đã trở thành vị Mật Hạnh Đệ Nhất ngay lúc tuổi còn trẻ. Trong công tác của giáo đoàn, dù không có những hoạt động sôi nổi như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, Ca Chiên Diên... nhưng đã chứng Thánh quả A La Hán, Mật Hạnh đệ nhất, La Hầu La đã có vị thế lâu dài trong hàng Thánh chúng Thập đại đệ tử của Đức Phật.
La Hầu La là con trai duy nhất của thái tử Tất Đạt Đa - tên gọi của Đức Phật trước khi xuất gia, khi ngài còn là thái tử của một đất nước. Từ nhỏ La Hầu La đã sống xa tình yêu thương của cha, tuy nhiên cuộc sống của Ngài cũng rất sung túc, giàu sang bên cạnh ông ngoại và mẫu thân. Vậy điều gì đã giúp La Hầu La đi theo con đường tu đạo, trở thành vị tôn giả trẻ tuổi nhất lúc bấy giờ? Hãy cùng Tự Thanh Quán đi tìm hiểu ngay sau đây nhé! Giới thiệu về phật La Hầu LaSự ra đời của La Hầu LaLa Hầu La được biết đến là người con trai ruột duy nhất của Đức Phật trước khi Ngài xuất gia. Chuyện kể rằng, từ xa xưa Đức Phật là thái tử, người được chỉ định sẽ kế thừa vương vị của đất nước. Tuy nhiên, Ngài lại có mong muốn được xuất gia, phù độ chúng sinh đem lại cuộc sống no đủ cho nhân loại. Vua cha lúc bấy giờ không chấp thuận, với mong muốn giữ chân con trai, nhà vua hạ lệnh chỉ cho phép thái tử xuất gia khi chàng hạ sinh được con trai đích tôn. Sau đó thái tử vì chiều lòng cũng như hoàn thành ước nguyện của cha đã cưới công chúa Da - du - đà - la và sinh ra một người con trai đặt tên là La Hầu La. Thái tử rất vui vẻ với sự ra đời của đứa con này vì cuối cùng Ngài cũng có thể lên đường đi theo lý tưởng cao cả của bản cuối trước khi ra đi, thái tử nhìn vợ và con trai lần cuối, khi đó La Hầu La mới được 7 ngày tuổi và leo lên lưng mã đi khỏi thành. La Hầu La là ai?Những ngày tháng sau đó, La Hầu La được ông ngoại và mẫu thân hết mực yêu thương, được sống một cuộc sống giàu có, hạnh phúc và là chỗ dựa vững chắc của cả quốc gia dân tộc. Xem ngay Toàn bộ về sự tích Địa Tạng Vương Bồ Tát bạn cần Hầu La đi theo con đường Phật giáoTuy nhiên, cậu bé năm nào vẫn canh cánh nỗi buồn chưa gặp được cha. Mãi đến năm 10 tuổi, La Hầu La mới gặp được lại Đức Phật tuy nhiên lúc này cha đã là vị Thánh cao cao tại thượng không còn được quá gần gũi, thân mật. Đức Phật cũng nhìn con đầy chua xót, canh cánh nỗi lòng vì dân vì nước bỏ qua việc nhà. Sau đó, Ngài đi theo con đường của cha để tu thành chín quả và đã trở thành vị tu chứng trẻ nhất khi mới 20 mí ý nghĩa tên La Hầu LaTheo truyền thuyết kể lại rằng, La Hầu La chính là cái tên Đức Phật tự mình đặt cho con trai Người với ý nghĩa “ràng buộc.” Đứa con sinh ra vừa là ước nguyện của vua cha, vừa là sự ràng buộc trách nhiệm đối với Thái tử. La Hầu La cũng là sợi dây ràng buộc tình cảm duy nhất của Ngài với trần bụi, với cuộc sống luân hồi tử sinh bình thường. Ý nghĩa tên La Hầu La từ đó được truyền tai nhau ngàn nghĩa tên La Hầu LaTuy theo đuổi con đường vì nhân dân, nhưng tình cảm ruột thịt thiêng liêng vẫn khiến Thái tử không khỏi chua xót, canh cánh nỗi đau khi bế La Hầu La trên tay. La Hầu La cùng mẫu thân đã trải qua quãng thời gian trần thế cho là cô đơn, hi sinh vì thiếu thốn tình cảm của người cha. Tuy nhiên rất nhiều ý kiến cho rằng sự hy sinh đó là có ý nghĩa bởi nó là động lực giúp Ngài tu thành chín quả sau này!Cách Đức Phật nuôi dạy La Hầu La cũng được người đời kính nể và trở thành tấm gương sáng truyền lại muôn đời. Ngài luôn dạy con phải trung thực và từ bi, không hề có sự thiên vị, đi theo con đường Thiền hành để phát triển nội tâm Tuệ giác để khai mở trí tuệ. Từ một cậu bé vương gia nghịch ngợm, thích trêu chọc người khác thuở mới tu hành, sau này La Hầu La đã trở thành vị Phật tuệ trí, bác ái. Xem ngay Địa Tạng Vương Bồ Tát là ai? Bí mật ý nghĩa của tượng?Mẫu tượng La Hầu La đẹp nhất hiện nayTự Thanh Quán là một trong những địa chỉ tâm linh uy tín và được biết đến nhiều tại Hà Nội. Chúng tôi cam kết đem đến những sản phẩm chất lượng nhất với nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, mẫu mã đa dạng, độ tinh xảo cùng độ bền cao theo thời gian. Hãy đến Tự Thanh Quán để đắm mình trong không gian tâm linh với những sản phẩm vô cùng đẹp mắt và tinh xảo nhé!Xem ngay Bỏ túi địa điểm mua tượng phật bà Quan Âm bằng gốm uy tínTrên đây là một số chia sẻ của Tự Thanh Quán về những câu chuyện thú vị xoay quanh phật La Hầu La là ai. Nếu bạn có bất cứ thắc mắc nào về tâm linh, hãy liên hệ với Tự Thanh Quán để nhận được tư vấn sớm nhất nhé! Chúng tôi tự hào là đơn vị uy tín luôn đồng hành cùng bạn!Xem ngay [FULL] 9+ Mẫu tượng phật quan âm đứng đẹp nhất
Đức Phật sau khi giác ngộ đã trở về quy y cho Nàng Gia-du-đà-la, La-hầu-la và hướng dẫn họ tu tập. Vậy vợ con của Thái tử Tất Đạt Đa đã nhập diệt khi nào? Trước hay sau khi đức Phật nhập diệt? Tỳ-kheo ni Gia-du-đà-la, mẫu thân của La-hầu- la nhập diệt vào năm bảy mươi tám tuổi, trước khi đức Phật nhập diệtPhần này nói về sự nhập diệt của Nàng Gia-du-đà-la vợ và tôn giả La-hầu-la Con trai duy nhất của Thái tử Tất Đạt Đa nhập diệt khi nào. Những nhân vật oanh liệt trong Tăng đoàn thuở ấy là Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, A-nan… còn La-hầu-la thì không, một người nghiêm túc trong mật hạnh trì giới, chỉ im lặng tu tập, im lặng không tranh đua với thế gian. Hoặc là vì La-hầu-la quan hệ đến đức Thế Tôn, nên Ngài đặc biệt hạn chế tôn giả. Chúng ta cũng biết La-hầu-la có tư cách nhu thuận, bẩm chất kiên cường, nhưng chúng ta cũng thấy trong sinh hoạt của một vị Tỳ-kheo Tôn giả không phải là người sôi nổi. Cho nên trong kinh sử không thấy ghi lại những sự tích La-hầu-la nhiệt tình thuyết pháp, hay nghị luận với ngoại đạo. Đúng như lời đức Thế Tôn nói, Tôn giả là người nghiêm túc trong tế hạnh, trong giới luật, là một vị Mật hạnh đệ nhất. La-hầu-la nhập diệt khi nào, cũng như năm tháng đản sanh của Tôn giả, có hai truyền thuyết. Có thuyết nói, thái tử Tất-đạt-đa năm mười chín tuổi hạ sanh La-hầu-la. Có thuyết lại nói đến năm Ngài hai mươi lăm tuổi mới hạ sanh La-hầu-la. Về năm diệt cũng có hai thuyết, một thuyết nói Tôn giả nhập Niết-bàn trước đức Phật vài năm, thuyết khác nói, khi đức Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả còn quỳ bên giường. Tuy nhiên, Ấn-Độ là một nước không mấy chú trọng về lịch sử, còn Trung Hoa chúng ta cũng không ít nhà phiên dịch phóng đại và tưởng tượng huyễn hoặc. Những sự tích lặt vặt về cuộc đời đức Thế Tôn và các vị Thánh đệ tử được ghi chép trong kinh điển, thật cũng có ít nhiều cắt xén. Căn cứ theo ký sử có thể khảo cứu qua kinh điển, thì Tỳ-kheo ni Gia-du-đà-la, mẫu thân của La-hầu-La nhập diệt vào năm bảy mươi tám tuổi, và La-hầu-la nhập diệt được kể là sớm hơn. Vào một buổi chiều, mẹ của La -hầu-la đã suy tư đến rất nhiều sự việc. Bà nghĩ Kiều-đàm-di, Liên Hoa Sắc đều đã nhập Niết-bàn, La-hầu-la cũng nhập Niết-bàn. Ta sanh đồng một năm với đức Phật, năm nay ta đã bảy mươi tám tuổi, nghe nói đức Phật sẽ nhập Niết bàn vào năm tám mươi tuổi. Nghĩ đến chuyện ta nhập diệt đồng một lúc với Ngài, tuy hiện tại đối với đức Phật chỉ có pháp tình mà không có tình riêng gì khác, nhưng chuyện ấy là một điều bất kính, chi bằng ta nhập diệt sớm là tốt hơn. Gia-du-đà-la được đức Phật hứa khả, hướng về Phật đảnh lễ cảm tạ xong, bèn hiện thần thông bay lên hư không mà đi. Và đêm đó bà ở trong phòng nhập định Niết-bàn. Căn cứ vào ký sự nhập diệt của Gia-du-đà-la thì La-hầu-la đã nhập diệt trước cả bà và đức Phật. Và theo đó, tính tuổi của Tôn giả không quá sáu mươi. Đại khái Tôn giả chỉ sống trên năm mươi năm là cùng. Đương nhiên, đối với một vị thánh thì xem cái chết, dù sớm hay muộn cũng là chuyện thường. Bỏ sắc thân hư huyễn giả dối này, đem sanh mạng an trụ trong lý thể pháp tánh, chuyện ấy không có gì phải buồn, trái lại đó là một sự hạnh phúc. La-hầu-la vào năm hai mươi tuổi đã khai ngộ chứng quả, cái mục đích tối hậu của đời người đã đạt được thì khi nhập diệt nhất định là an nhiên vi tiếu mà ra đi. La-hầu-la zh羅 睺 羅; si, pi rāhula hán dịch là Phú Chướng, nghĩa là "sự chướng ngại", một trong thập đại đệ tử của Phật. Ông cũng là người con duy nhất của Phật tổ Tất-đạt-đa Cồ-đàm trước khi Phật xuất gia. Mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu Gia-du-đa-la si yaśodharā. La-hầu-la được sinh ra năm 608 TCN, khi thái tử Tất-đạt-đa lúc ấy đã 29 tuổi, quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm chân lý đích thực. Nhiều người cho rằng đó là hành vi "vô trách nhiệm" đối với một người cha. Tuy nhiên sau này có thể thấy chính Phật là người đích thân dạy dỗ con trai mình trên con đường đạt đạo. Nhờ vậy La-hầu-la đã sớm giác ngộ khi mới ngoài 20 tuổi [1]. La-hầu-la được tôn giả Xá-lợi-phất s śāriputra đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ khi chưa đến 50 tuổi[2][3] khoảng năm 560 TCN.
cái chết của la hầu la